Tình Hình Phát Triển Cây Công Nghiệp Ở Nước Ta

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (106.43 KB, 4 trang )


Bạn đang xem: Tình hình phát triển cây công nghiệp ở nước ta

Nguyên có 9.240 trang trại, trong đó có 7.120 trang trại trồng CCN lâu năm, chủ yếu là cà phê.Phong trào đầu tư thâm canh cây cà phê được đẩy mạnh, nên năng suất cà phê nước ta từ 1 tấnthời kỳ đầu năm 1990 tăng lên 1,5 tấn - 2 tấn/ha giai đoạn 2001 - 2007.Cà phê là CCN gắn với xuất khẩu rất chặt chẽ. Quy mô sản xuất luôn phụ thuộc vào thị trườngcà phê thế giới vì trên 95% sản lượng cà phê để phục vụ xuất khẩu. Năm 2007, sản lượng càphê xuất khẩu của Việt Nam đã lên tới 1.227 nghìn tấn, kim ngạch 1,854 tỉ USD. Chín tháng đầunăm 2008 kim ngạch xuất khẩu đạt 1,619 tỉ USD.Cây cao su là CCN lâu năm, phải trồng và chăm sóc khoảng từ 6 đến 7 năm mới bắt đầu khaithác mủ. Thời gian khai thác kéo dài 30 năm- 35 năm. Trong những năm qua đã hình thành 2vùng sản xuất cao su tập trung là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và đang mở rộng ra các tỉnh khácvùng Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc v.v.. Diện tích cao su năm 1996 trên 280 nghìn héc-ta,trong đó gần 150 nghìn héc-ta đang khai thác mủ. Hai chỉ tiêu tương ứng năm 2000 là 410 nghìnhéc-ta và 230 nghìn héc-ta; năm 2007 là 550 nghìn héc-ta và 374 nghìn héc-ta. Tốc độ tăng diệntích cao su trong những năm qua rất nhanh chủ yếu do phát triển cao su tiểu điền.Cùng với mở rộng diện tích, năng suất cao su (tính theo mủ khô) cũng không ngừng tăng lên,năm 1996 đạt 900kg/ha, trong đó những diện tích cao su ở độ tuổi từ 12 đến 20 năm đạt trên1.000kg/ha, đưa sản lượng cao su (mủ khô) của cả nước lên 140 nghìn tấn, năm 2000 đạt 291nghìn tấn, và năm 2007 đạt trên 601 nghìn tấn cao su mủ khô. Sản lượng cao su xuất khẩu năm2007 là 750 nghìn tấn, kim ngạch đạt trên 1,4 tỉ USD. Chín tháng đầu năm 2008 đạt 459 nghìntấn, kim ngạch 1,256 tỉ USD.Cao su có tán che phủ lớn, đạt yêu cầu phủ xanh diện tích đất trống, đồi núi trọc, thu hút nhiềulao động.Cao su tiểu điền là một trong những mô hình nông, lâm kết hợp phát triển bền vững, gắn với bảovệ môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng và góp phần cải thiện một bước đời sống của hàngchục vạn gia đình nghèo, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ,miền núi phía Bắc.Cây chè đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm. Điều kiện khí hậu nước ta rất thích hợp pháttriển cây chè, tập trung ở hai vùng trọng điểm miền núi trung du phía Bắc và Tây Nguyên.
Năm 1995, Tổng Công ty Chè Việt Nam (VINATEA) được thành lập, thực hiện hàng loạt giảipháp mới, gắn sản xuất với chế biến, xuất khẩu. Nhờ đó sản xuất chè đã đạt được những kếtquả đáng ghi nhận. Năm 2001, diện tích chè đạt 95,6 nghìn héc-ta, sản lượng đạt 371,5 nghìntấn, xuất khẩu 58 nghìn tấn, kim ngạch 66,4 triệu USD. Đến năm 2007, diện tích chè lên tới125,7 nghìn héc-ta, tăng 31,5%, sản lượng chè đạt 709 nghìn tấn, tăng 91%, chè xuất khẩu đạt115 nghìn tấn, tăng 98% và kim ngạch đạt 131 triệu USD tăng 98% so năm 2001, 9 tháng đầunăm 2008 đạt 81 nghìn tấn, kim ngạch đạt 113 triệu USD.Cây điều là cây trồng dễ tính, chịu được đất xấu và nắng hạn, thích hợp với vùng Đông Nam Bộvà Tây Nguyên. Đó là cây trồng xóa đói, giảm nghèo ở những vùng đất xấu nên diện tích gieotrồng có xu hướng tăng dần từ 195 nghìn héc-ta năm 1996 lên 348 nghìn héc-ta năm 2005 và437 nghìn héc-ta năm 2007. Tuy nhiên, do đầu tư thâm canh kém nên năng suất điều rất thấp vàsản lượng chưa ổn định. Sản lượng hạt điều khô năm 1996 đạt 59 nghìn tấn đến 2000 chỉ có 57nghìn tấn. Những năm gần đây, tuy sản lượng có tăng lên chủ yếu do tăng diện tích trồng. Sảnlượng điều năm 2001 là 73 nghìn tấn, 2006 là 240 nghìn tấn và năm 2007 là 302 nghìn tấn.Hồ tiêu là cây chiếm ít diện tích nhưng đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn nên chỉ thích hợp vớinhững hộ nông dân hoặc trang trại có tiềm lực và kinh nghiệm sản xuất hàng hóa, chủ yếu ở PhúQuốc (Kiên Giang), Đông Nam Bộ và Tây Nguyên... Nếu năm 1995 mới có 5,2 nghìn héc-ta, sảnlượng 9,3 nghìn tấn, năm 2000 tăng lên 14,9 nghìn héc-ta, sản lượng 39,2 nghìn tấn thì năm2007 lên tới 40,9 nghìn héc-ta và 90,3 nghìn tấn. Về xuất khẩu, năm cao nhất (2006) đạt 114,8nghìn tấn, kim ngạch trên 300 triệu USD, 9 tháng đầu năm 2008 đạt 72 nghìn tấn và 255 triệuUSD, tăng 23,6% so với cùng kỳ 2007. Những năm gần đây, Việt Nam là nước đứng đầu thế giớivề sản lượng hồ tiêu sản xuất và xuất khẩu.Nguyên nhân của những kết quả trên, trước hết do đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế củaĐảng, các chính sách của Nhà nước đã phát huy tác dụng tích cực, nhất là đất đai, trang trại,thuế, đầu tư, thị trường xuất khẩu nông sản nói chung, sản phẩm CCN lâu năm nói riêng.Những hạn chế và bất cậpPhát triển không đều: Cây dừa giảm dần cả diện tích và sản lượng liên tục. Diện tích cho sảnphẩm năm 1995 là 143,8 nghìn héc-ta, năm 2000 còn 140 nghìn héc-ta và năm 2007 chỉ còn
118,8 nghìn héc-ta. Sản lượng dừa cũng giảm dần theo xu hướng đó: từ 1.165,3 nghìn tấnxuống 885 nghìn tấn và 1.046,8 nghìn tấn trong 3 năm tương ứng. Diện tích gieo trồng tiêu trong3 năm 2005 - 2007 có xu hướng giảm dần, từ 50,8 nghìn héc-ta năm 2004 giảm còn 47,9 nghìnhéc-ta năm 2007. Sản lượng hồ tiêu xuất khẩu năm 2007 còn 82,9 nghìn tấn, bằng 72,21% sovới năm 2006.Tính bền vững không cao: Trong sản xuất, tình trạng manh mún, tự phát, không theo quyhoạch, đầu tư thấp, chất lượng và độ sạch không cao vẫn là phổ biến. Quy mô vườn cây nhỏtheo hộ gia đình, trang trại nên rất khó khăn áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh, bảo vệthực vật và thu gom sản phẩm theo công nghệ hiện đại. Khuynh hướng khai thác bóc lột vườncây cà phê, chè như sử dụng phân hóa học quá nhiều, lạm dụng chất kích thích sinh trưởng,thuốc trừ sâu quá liều để có năng suất, sản lượng trước mắt nhưng sau đó vườn cây lại chóngtàn lụi làm cho hiệu quả kinh tế thấp kém.Tình hình mua, bán, cầm cố, sang nhượng đất vườn cây một cách tự phát, đốt phá rừng trồng càphê, cao su trở nên phổ biến đã và đang đe dọa sự phát triển bền vững của nhiều vườn CCN lâunăm, ảnh hưởng lớn đến môi trường, nguồn nước tưới, sinh thái.Sản xuất chưa gắn với chế biến và tiêu thụ. Hầu hết sản phẩm cây công nghiệp lâu năm ởnước ta chưa có các nhà máy chế biến trình độ cao, máy móc hiện đại nên sản phẩm xuất khẩuchủ yếu là nguyên liệu thô hoặc sơ chế, chất lượng và giá cả kém sức cạnh tranh.Sản lượng CCN lâu năm sản xuất chưa có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nên giá cả chưa ổn định.Sản xuất theo lối quảng canh vẫn tồn tại: Trong những năm qua, cây điều phát triển chủ yếutheo phương thức quảng canh nên năng suất vừa thấp, vừa bấp bênh. Các yếu tố đầu vào nhưgiống, kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh, phân bón đến phương thức thu hoạch... đềuchưa có đầu tư thỏa đáng, chủ yếu do nông dân tự lo liệu một cách tự phát.Cung - cầu mất cân đối: Một số sản phẩm như cà phê, hồ tiêu, vẫn trong tình trạng cung - cầuchưa ổn định, nhiều năm cung lớn hơn cầu. Những năm được mùa, khi rớt giá lại xảy ra tìnhtrạng chặt cà phê chuyển sang cây trồng khác và ngược lại. Cơ cấu sản xuất cà phê còn chưahợp lý. Giống sản xuất chủ yếu là cà phê vối trong khi thị trường thế giới cần là cà phê chè.Cung thấp hơn cầu: Sản lượng điều sản xuất vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhàmáy chế biến hạt điều, các nhà máy phải nhập khẩu nguyên liệu mặc dù đất có khả năng trồngđiều trong nước còn rất lớn.
Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế trên vẫn là do chưa có quy hoạch và chính sách pháttriển các CCN lâu năm một cách hợp lý nhưng chậm bổ sung, sửa đổi; sản xuất không gắn vớichế biến, tiêu thụ, đầu tư thấp; trình độ nông dân nhiều vùng chưa theo kịp yêu cầu sản xuấtnông sản hàng hóa trong cơ chế thị trường; vai trò của Nhà nước trong việc ổn định sự phát triểncòn mờ nhạt; lúc được mùa thì rớt giá, lúc được giá thì không có sản phẩm bán ra do mất mùa...cuối cùng lợi ích người sản xuất chưa được bảo đảm.2 - Mấy giải pháp chủ yếuĐể phát triển CCN lâu năm theo hướng bền vững, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ yếulà:- Hoàn thiện quy hoạch sản xuất các loại CCN lâu năm theo hướng sản xuất hàng hóa gắn vớichế biến và tiêu thụ. Quy hoạch sản xuất CCN lâu năm cần gắn với quy hoạch sử dụng đất nôngnghiệp, rừng tự nhiên và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng vùng, từngđịa phương, theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chất lượng cao và phát triển bền vững.- Đổi mới phương pháp đầu tư, chuyển từ đầu tư chiều rộng sang đầu tư chiều sâu, ứng dụngrộng rãi các tiến bộ khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất, chế biến sảnphẩm CCN lâu năm để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, giảm chi phí trung gian, tăngsức cạnh tranh trên thị trường. Phát triển và nâng cấp các công trình thủy lợi, tiến tới thực hiệntưới chủ động, khoa học cho toàn bộ diện tích cà phê trong mùa khô ở Tây Nguyên và ĐôngNam Bộ. Đối với các cây chè, cao su, tiêu, điều, dừa chuyển mạnh đầu tư trồng mới sang đầu tưthâm canh bằng áp dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ để cải tạo giống, bảo vệ thực vật,chăm sóc, công nghệ sau thu hoạch để bảo đảm tăng năng suất, tăng chất lượng và giá trị sảnphẩm.- Hiện đại hóa công nghệ sau thu hoạch như phơi, sấy, bảo quản, vận chuyển, chế biến sảnphẩm CCN lâu năm theo hướng đồng bộ. Tổ chức thu gom nông sản hàng hóa trên cơ sở ký kếthợp đồng đầu tư ứng trước và tiêu thụ sản phẩm giữa người sản xuất với các doanh nghiệp kinhdoanh, chế biến, xuất khẩu nông sản. Nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất làđiện, đường giao thông ở các vùng sản xuất nông sản hàng hóa lớn, chất lượng cao. Thu hútmạnh các dự án FDI vào sản xuất và chế biến các sản phẩm CCN lâu năm bằng các chính sách
và cơ chế hấp dẫn.- Ổn định đầu ra cho sản phẩm bằng các cơ chế, chính sách thích hợp. Ổn định thị trường đã cóvà mở rộng các thị trường mới là giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất có tác dụng trực tiếp.Giải pháp cho vấn đề thị trường hiện nay là: cần thực hiện đồng bộ từ khâu sản xuất sản phẩmđủ số lượng, cơ cấu, độ sạch theo yêu cầu thị trường, giảm giá thành để tăng sức cạnh tranhđến áp dụng khoa học - công nghệ vào các khâu sơ chế, chế biến để tăng chất lượng sản phẩm,bảo đảm chữ tín với khách hàng.- Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, trong đó trọng tâm là bổ sung, hoàn thiện cơ chếchính sách, luật pháp nhằm tạo bước đột phá trong việc hỗ trợ người sản xuất, chế biến và xuấtkhẩu sản phẩm CCN lâu năm ở nước ta./.


*
Tài liệu Phân bón cho cây công nghiệp lâu năm docx 4 543 1
*
Tài liệu Báo cáo "Phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp " pptx 7 968 2

Xem thêm: Cây Cỏ Đồng Tiền Mua Cỏ Đồng Tiền Ở Đâu, Cây Rau Má Kiểng (Cỏ Đồng Tiền) ₫35

*
Luận văn: Quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp để phát triển cây công nghiệp ở tỉnh Kon Tum pdf 104 913 0
*
Thực trạng và xu hướng phát triển nghành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam 111 918 0
*
Diện tích, sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm 1 1 1
*
Địa lý lớp 9 - THỰC HÀNH SO SÁNH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY CÔNG NGHIỆP LÂU NĂM Ở TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ VỚI TÂY NGUYÊN ppsx 3 1 0
*
Địa lý lớp 9 - THỰC HÀNH SO SÁNH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY CÔNG NGHIỆP LÂU NĂM Ở TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ VỚI TÂY NGUYÊN doc 5 1 1
*
Giáo án Địa lý lớp 9 : Tên bài dạy : THỰC HÀNH: SO SÁNH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY CÔNG NGHIỆP LÂU NĂM Ở TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ VỚI TÂY NGUYÊN pptx 4 751 0
*
bài giảng địa lý 9 bài 30 thực hành so sánh tình hình sản xuất cây công nghiệp lâu năm ở trung du và miền núi bắc bộ với tây nguyên 24 10 3
*
Gíao dục và đào tạo, khoa học và công nghệ động lưc phát triển của lưc lượng sản xuất ở nước ta hiện nay 29 501 0